VĂN BẢN MỚI
Thống kê truy cập
Số lượng và lượt người truy cập
-
Online 45
-
Hôm nay 9334
-
Tổng4.863.611
WEBSITE SỞ NGÀNH
LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ: MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG, TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN VÀ ĐẨY MẠNH CHUYỂN ĐỔI SỐ
Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16. Luật gồm 03 điều, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và một số luật có liên quan, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Luật tập trung hoàn thiện cơ chế trợ giúp pháp lý theo hướng mở rộng đối tượng được hưởng TGPL, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, hoàn thiện đội ngũ thực hiện TGPL, đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Một số nội dung đáng chú ý như sau:
1. Mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý
So với Luật năm 2017, diện người được TGPL được mở rộng theo nhiều hướng. Bên cạnh các nhóm đã được quy định như người thuộc hộ nghèo, người có công với cách mạng, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số nhóm người chưa thành niên, nạn nhân của hành vi mua bán người, Luật bổ sung và mở rộng một số nhóm đối tượng.
Đáng chú ý, không còn yêu cầu điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật. Đồng thời, Luật quy định trực tiếp người thuộc hộ cận nghèo và một số người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng thuộc diện được TGPL.
Luật cũng bổ sung các nhóm mới gồm: người dân tộc thiểu số rất ít người; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả; cá nhân bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định về TGPL.
2. Luật hóa cơ chế trực trợ giúp pháp lý và phối hợp liên ngành trong tố tụng
Luật bổ sung quy định về cơ chế phối hợp liên ngành, trực TGPL tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để người được TGPL thực hiện quyền của mình và để người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định.
Luật đồng thời quy định trách nhiệm phối hợp xây dựng cơ chế Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh, cũng như kết nối, chia sẻ dữ liệu TGPL với Cổng Pháp luật quốc gia.
3. Mở rộng điều kiện thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước
Luật bỏ quy định giới hạn việc thành lập Chi nhánh TGPL theo một số điều kiện địa bàn như trước đây. Việc thành lập Chi nhánh được xem xét căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu TGPL tại địa phương, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định.
Quy định này tạo cơ sở để địa phương chủ động bố trí mạng lưới TGPL phù hợp với đặc điểm dân cư, địa bàn và nhu cầu thực tế.
4. Hoàn thiện tiêu chuẩn, cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm trợ giúp viên pháp lý
Luật sửa đổi các quy định về tiêu chuẩn, bổ nhiệm, cấp và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Người đã từng là trợ giúp viên pháp lý được loại trừ khỏi yêu cầu phải qua thời gian tập sự lại khi đáp ứng các điều kiện luật định.
Đồng thời, Luật quy định cụ thể hơn các trường hợp không được bổ nhiệm, các trường hợp miễn nhiệm, thu hồi thẻ và trường hợp đương nhiên miễn nhiệm, thẻ không còn giá trị khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu.
Thời hạn không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng làm căn cứ miễn nhiệm, thu hồi thẻ cũng được điều chỉnh từ 02 năm xuống 12 tháng liên tục.
5. Mở rộng nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý
Luật mở rộng phạm vi và đối tượng có thể trở thành cộng tác viên TGPL, không còn giới hạn địa bàn như quy định trước đây; đồng thời, bổ sung một số nhóm người có kinh nghiệm làm công tác pháp luật, kể cả một số viên chức đáp ứng điều kiện theo luật định và được cơ quan nơi công tác đồng ý.
Đáng chú ý, cộng tác viên TGPL được thực hiện vụ việc đại diện ngoài tố tụng theo quy định của Luật, góp phần bổ sung nguồn lực thực hiện TGPL.
6. Hoàn thiện cơ chế cấp, thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL
Luật bổ sung các trường hợp không được cấp thẻ cộng tác viên TGPL và quy định cụ thể hơn về thu hồi thẻ.
Cộng tác viên có thể bị thu hồi thẻ trong trường hợp không tham gia thực hiện vụ việc TGPL trong 02 năm liên tục, vi phạm quy định về hoạt động TGPL, chấm dứt hợp đồng cộng tác hoặc thuộc các trường hợp khác theo quy định của Luật.
7. Tăng cường trách nhiệm của UBND cấp xã
Luật bổ sung và xác định rõ hơn trách nhiệm của UBND cấp xã trong hoạt động TGPL. Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với chính quyền cơ sở, nơi thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc của người dân.
Theo đó, UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ về TGPL theo quy định, góp phần phát hiện, thông tin, hướng dẫn và hỗ trợ người thuộc diện được TGPL tiếp cận dịch vụ TGPL khi có nhu cầu.
8. Tăng cường trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Luật sửa đổi, bổ sung Điều 42 theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong hoạt động TGPL, trong đó ghi nhận trách nhiệm giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về TGPL.
9. Bổ sung cơ chế chuyển vụ việc TGPL
Luật bổ sung quy định về chuyển vụ việc TGPL giữa các Trung tâm TGPL nhà nước khi vụ việc được chuyển đến cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương khác.
Việc chuyển vụ việc nhằm tạo điều kiện để Trung tâm TGPL nơi cơ quan tiến hành tố tụng đang giải quyết vụ việc tiếp tục thực hiện TGPL thuận lợi, đồng thời, phải thông báo cho người được TGPL biết.
10. Đơn giản hóa thủ tục hành chính
Luật giảm các quy định mang tính thủ tục, hồ sơ và trình tự chi tiết trong Luật, chuyển một số nội dung cho Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, hướng dẫn.
Các nội dung được điều chỉnh gồm một số quy định về hồ sơ, trình tự bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý; miễn nhiệm, thu hồi thẻ; cử người thực hiện TGPL; xác minh vụ việc; giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động TGPL.
11. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Luật bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động TGPL; tăng cường xây dựng, quản lý, kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu TGPL.
Cơ sở dữ liệu TGPL được kết nối với Cổng Pháp luật quốc gia và có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục và tạo thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận dịch vụ TGPL.
Luật số 05/2026/QH16 đã bổ sung nhiều quy định mới về đối tượng được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và chuyển đổi số. Những quy định này tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục hoàn thiện hoạt động TGPL, phù hợp với yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và cải cách hành chính, tư pháp trong giai đoạn mới.
Để Luật được triển khai hiệu quả khi có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, các cơ quan, đơn vị cần chủ động nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến các quy định mới; đồng thời, tăng cường phối hợp, hướng dẫn để người thuộc diện được TGPL biết và thực hiện quyền của mình theo quy định pháp luật.
Kim Oanh
Văn phòng HĐND và UBND xã Minh Hóa